"CÁN BỘ THƯ VIỆN LÀ LINH HỒN CỦA SỰ NGHIỆP THƯ VIỆN" (N.K KRUXKAIA)
Gốc > Tin tức- Sự kiện > Giáo dục >

Những di sản tư tưởng vô giá cho sự phát triển lý luận giáo dục đất nước

 

 

 (TT-VH-GD-GT)-
small_2343.jpg1 

Có một lớp các nhà nho Việt ưu tú đã để lại dấu ấn tư tưởng rất có giá trị cho sự phát triển lý luận giáo dục của dân tộc suốt chiều dài lịch sử. Trong số đó quê hương Hà Nội tự hào có ba vị tiêu biểu là Chu Văn An (T.kỷ 13), Nguyễn Trãi (T.kỷ 15), Ngô Thì Nhậm (T.kỷ 18). Bài viết này xin tổng thuật một số ý tưởng giáo dục của ba nhà văn hóa trên mà giá trị nội dung còn sống động và cần thiết cho cuộc đổi mới hôm nay.



* Chu Văn An
(Tân Tỵ 1292 - Canh Tuất 1370)

Tên thật là Chu An, tự Linh Triệt, hiệu Tiều Ẩn là nhà giáo, thầy thuốc, đại quan vương triều Trần. Ông được coi là người đầu tiên đóng dấu son nổi bật cho nền giáo dục đất nước .

Chu Văn An quê ở làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Nay là thôn Văn, xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Là người chính trực, từng đỗ Thái học sinh (như tiến sĩ ngày nay), nhưng ông không ra làm quan mà mở trường dạy học ở Hoàng Cung bên cạnh dòng Tô lịch.

Vua Trần Minh Tông (1314 - 1329) biết tiếng ông thanh liêm vời ông ra giúp, bổ nhiệm ông giữ chức Tư nghiệp Quốc tử giám (như Hiệu trưởng trường đại học), giao cho ông dạy dỗ thái tử Trần Vượng (sau này là vua Trần Hiến Tông).

Thời gian đảm nhiệm chức trách Tư nghiệp Quốc tử giám, ông soạn sách "Tứ thư thuyết ước", tóm tắt tinh hoa các sách Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học, Trung dung để dạy cho môn sinh. Quan điểm của ông tóm tắt trong 8 chữ: "Cùng lý, Chính tâm, Trừ tà, Cự bế", chú trọng sự thực hành đối với giáo lý của Khổng Tử và các bậc tiên hiền. Ông đào tạo được rất nhiều học trò, có tài liệu nói đạt tới ba ngàn người, trong đó có một số môn sinh có tài đức cao như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh.

small_2340.jpg2
Chu Văn An

Đời vua Trần Dụ Tông (1341 - 1368) thấy bọn gian thần làm nhiều điều vô đạo, ông dâng sớ lên nhà vua xin chém 7 tên (thường gọi là thất trảm sớ), vua không chấp nhận, ông từ quan về núi Phượng Hoàng (Chí Linh - Hải Dương) dạy học, viết sách.

Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: Tuy ở núi Chí Linh song ông vẫn quan tâm việc ở triều. Những dịp lễ trọng, ông đều về dự. Dụ Tông đem chính sự giao cho ông, ông từ chối. Thái hậu Bảo Từ nói về ông: "Đó là bậc cao hiền, giữ mình trong sạch, dẫu là thiên tử cũng không thể khuất phục được ông khi bắt ông làm việc trái đạo lý". Vua đem của cải ban cho ông, ông lạy tạ xong đem cho người khác.

Khi mất (1370) ông được vua Trần Nghệ Tông (1370 - 1372) ban tên thụy là Văn Trinh, hiệu là Khang Tiết đưa vào thờ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám cùng với Chu Công, Khổng Tử.

Câu đối thờ ông trong văn bia của Quốc Tử Giám có ghi:

"Trần văn thử hà thời, Dục vong đại phi hiền giả lạc.

Phượng sơn tồn ẩn sứ, Trí lưu trường ngưỡng triết nhân phong"

(Cuối đời Trần là đời nào mà có người hiền giả chỉ ham ngâm vịnh ... Núi Phượng hoàng vẫn còn dấu vết Người ở ẩn, đỉnh non mãi mãi ngưỡng mộ phong thái triết nhân).

Ngoài bộ sách "Tứ thư thuyết ước" , khi dạy học ở Chí Linh ông còn soạn tập thơ chữ hán "Tiều ẩn thi tập" và tập thơ chữ việt "Quốc ngữ thi tập" (Tập này sau bị quân Minh lấy đem về Tàu).

Trong tác phẩm của mình, Chu Văn An nhấn mạnh trách nhiệm của nhà giáo dục: "Phàm học thành đạt cho mình là để thành đạt cho người. Công đức tới đâu ân huệ để lại cho đời sau đến đấy, đều là phận sự của nhà nho chúng ta".

Chu Văn An được dân tộc coi là Sư biểu cho các thế hệ giáo giới Việt Nam. Hà Nội nơi ông sinh, thờ ông trong Văn Miếu. Chí Linh, Hải Dương nơi ông mất lập đền thờ ông rất trang trọng.

Hàng năm vào ngày khai giảng bế giảng, đặc biệt các dịp trọng lễ, ngày 20/11 (ngày Nhà giáo Việt Nam) ở nước ta có một truyền thống đẹp: Các đoàn đại biểu giáo dục từ nhiều miền của đất nước đến thắp hương tưởng niệm ông hoặc ở Văn Miếu hoặc ở Chí Linh. Họ hứa với ông phấn đấu trở thành "Sư hinh" (người thày giáo cao quý) người công dân xứng đáng cho đất nước..

* Nguyễn Trãi (Canh thân 1380 - Nhâm tuất 1442)

Ông là Anh hùng dân tộc. UNESCO (Tổ chức Văn hóa khoa học của Liên hiệp quốc) trong dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh của ông (1980) đã tôn vinh ông là Danh nhân văn hóa thế giới.

Ông có hiệu Ức Trai, là cháu ngoại quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, tôn thất nhà Trần, con danh sĩ Nguyễn Phi Khanh, quê làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông, nay là thôn Nhị Khê, xã Quốc Tuấn, huyện Thường Tín, Hà Nội.

Nguyễn Trãi đỗ Thái học sinh năm Canh thìn 1400 đời nhà Hồ lúc ông mới 20 tuổi, được bổ chức Ngự sử đài chánh chương, cùng làm quan với cha là Nguyễn Phi Khanh tại triều có chức Hàn lâm học sỹ.

Năm Đinh Hợi (1407) nhà Minh cướp nước ta, cha ông bị chúng bắt giải về Kim Lăng. Ông tiễn cha đến tận Nam quan. Phi Khanh khuyên ông về lo việc báo thù cha, rửa hận nước. Ông vâng lời trở về, song bị giặc Minh bắt giam lỏng ở Đông Quan (bây giờ là khu vực nội thành Hà Nội).

Năm 1418, ông cùng Trần Nguyên Hãn trốn được khỏi Đông Quan vào Lam Sơn dâng kế sách bình Ngô lên Lê Lợi.

small_2341.jpg3 

Suốt 10 năm kháng chiến chống giặc Minh, Nguyễn Trãi là nhà tham mưu chiến lược cho Lê Lợi về quân sự và ngoại giao, góp phần quyết định thành công cho cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc.

Năm Mậu Thân 1428, Lê Lợi lên ngôi, phong ông tước Quan phục hầu, cho theo họ vua có tên là Lê Trãi, rất tin dùng ông. Tuy vậy sau khi Lê Lợi mất, bọn gian thần trong triều ghen ghét gièm pha ông, nên ông cáo quan về ẩn dật ở Côn Sơn, phải đợi đến khi Lê Thái Tông giết được Lê Sát (1442) vời ông ra giúp việc chính trị, ông mới trở lại triều đình. Nhưng không bao lâu xẩy ra vụ Lệ chi viên, Lê Thái Tông đột tử, bè đảng Lê Sát còn ở triều nhân cớ này ghép ông tội giết vua, tống ngục rồi thực hiện việc chu di tam tộc (16/8 Nhâm Tuất - 19/9/1442).

Khi Lê Tư Thành lên ngôi (1460) nỗi oan khuất của ông mới được giải. Lê Thánh Tông ví Ông "Tâm sáng như sao Khuê” (Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo).

Khi cuộc kháng chiến chống Minh thành công, Nguyễn Trãi được Lê Lợi giao cho soạn "Bình Ngô đại cáo". Đây là áng hùng văn thiên cổ nêu tuyên ngôn chính trị của Đại Việt, chan chứa lòng tự hào dân tộc và tính nhân văn hiếu sinh sâu sắc.

"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt chỉ vì khử bạo. Như nước Việt ta từ trước vốn xưng nền văn hiến đã lâu ..."

Ngoài "Bình Ngô đại cáo", ông đã sáng tác nhiều tác phẩm giá trị như "Dư địa chí", "Quốc âm thi tập", "Toàn tập tân biên".

Trong "Toàn tập tân biên", Nguyễn Trãi soạn quốc sách cho Lê Thái Tổ tuyển mộ người hiền tài xây dựng đất nước lúc hòa bình.

"Vậy hạ lệnh các cấp mỗi người đều cử một người ... Có tài văn võ thì Trẫm sẽ tùy tài trao chức ... Tiến hiền thì được trọng thưởng ... Nếu cử được người tài đức hơn người tất được trọng thưởng. Chiếu này ban ra ... các quan đều phải tiến cử được người hiền tài ".

Quốc âm thi tập là tác phẩm quan trọng của Nguyễn Trãi về mặt văn chương. Trong tác phẩm này chứa đựng nhiều ý tưởng giá trị về giáo dục. Tiêu biểu là hai câu:

"Nên thợ, nên thày vì có học

No ăn, no mặc bởi hay làm"

(Bài số 173 trong Quốc âm thi tập)

Hai câu này định hướng chính sách kinh tế giáo dục của quốc gia quan triết tư tưởng vương đạo vô luận ở hoàn cảnh nào.

*Ngô Thì Nhậm (Bính Dần 1746 - Quý Hợi 1803)

Ngô Thì Nhậm là con cả của Ngô Thì Sỹ, tự là Hy Doãn, hiệu là Đạt Hiên, sinh ngày 9/11 Bính dần (25/10/1746), quê làng Tó, Thanh Trì, Hà Đông, nay là phố Triều Khúc, quậnThanh Xuân, Hà Nội.

Thuở nhỏ rất thông minh và có chí, được cụ nội, ông nội và cha dạy dỗ một cách nghiêm cẩn nên học vấn vững vàng sớm có hoài bão lớn.

Ông đỗ Giải nguyên năm 23 tuổi, đỗ Sỹ vọng năm 24 tuổi được bổ quan, nhưng vì cha mất sớm nên ông xin nghỉ quan cư tang ở nhà. Năm 29 tuổi ông đỗ Tiến sỹ được bổ chức Hộ khoa cấp sự trung (một chức làm nhiệm vụ tra xét công việc sai trái của các Bộ Hộ) năm sau được thăng làm giám sát Ngự sử Sơn nam (một chức quan kiểm tra việc thuế khóa chi tiêu) rồi thăng Đốc đồng Kinh Bắc - Thái nguyên (chức quan xét việc tố tụng). Năm 1779, Ngô Thì Nhậm được triệu về kinh phong chức Đông các hiệu thư (Làm nhiệm vụ hiệu đính các văn từ sách vở).

Cuộc đời quan trường như vậy tạo cho ông một sự hiểu biết khá rộng về thực tiễn. Tuy nhiên sau vụ án Canh Tý (Trịnh Tông lật Trịnh Cán) rồi loạn kiêu binh, ông phải tránh về Sơn Nam để tránh rắc rối ở triều đình.

Năm 1786, Tây Sơn ra Bắc lần thứ nhất dẹp họ Trịnh lấy lại quyền hành cho vua Lê, ông được triều đình vời về kinh giữ chức Đô cấp sự trung bộ Hộ rồi thăng Hiệu thư kiêm toàn tu Quốc sử.

Năm 1788, Tây Sơn ra Bắc lần thứ 2, Lê Chiêu Thống bỏ chạy, Ngô Thì Nhậm được Trần Văn Kỷ tiến cử với Nguyễn Huệ. Vị lãnh tụ này cảm nhận được tài năng của Ngô Thì Nhậm đã yêu mến trọng dụng ông phong chức Công bộ thị lang tước Trình phái hầu.

Cuối năm 1788 khi quân Thanh xâm chiếm nước ta, Ngô Thì Nhậm có công lớn trong việc tham mưu giúp Quang Trung đại phá quân Thanh làm nên chiến công hiển hách mùa xuân Kỷ Dậu (1789).

Năm 1790, ông được Quang Trung cử giữ chức Binh bộ thượng thư kiêm chức Tổng tài quốc sử quán, hoạch định đường lối kinh tế giáo dục cho đất nước vượt các khó khăn sau bao năm ly loạn.

Sau khi Quang Trung mất (ngày 29/4 nhuận năm Nhâm Tý 1792), chính sự nhà Tây Sơn suy đồi, triều đình rối ren. Ngô Thì Nhậm rất buồn, nhưng biết mình không thể xoay chuyển được. Năm 1796, ông cáo quan lui về quê nhà lập thiền viện nghiên cứu và dạy học, giữ khí tiết nhà nho.

Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh thắng Quang Toản lên ngôi Gia Long. Nhà Nguyễn đã tiến hành một cuộc khủng bố trả thù dã man dòng họ Tây Sơn và những người phục vụ cho triều đình Tây Sơn. Ngô Thì Nhậm dù không làm việc tại triều vẫn bị Gia Long tị hiềm để ý.

small_2342.jpg4 

Năm 1803 khi ra Bắc, Gia Long bắt Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích (em rể ông) đến tra xét ở nơi hành tại, hạch tội hai ông đã giúp Quang Trung, sai quân đánh đòn ở Văn miếu. Với Ngô Thì Nhậm, Gia Long ngầm sai đánh tàn nhẫn thành phế nhân rồi đuổi về nhà. Ít ngày sau ông mất (Ngày 16/2 Quý Hợi - 9/3/1803) hưởng dương 57 tuổi.

Trong lĩnh vực giáo dục, nhà nghiên cứu Phạm Minh Hạc khi phân tích hai văn bản ông soạn thảo cho Quang Trung là Chiếu cầu hiền và Chiếu khuyến học đã khẳng định: "Ông thuộc vào hàng ngũ nhân tài kiệt xuất, với cốt cách quân tử kẻ sỹ... mà dân ta tôn vinh, ghi nhớ đời đời, vận dụng vào cuộc sống làm cho dân cường nước thịnh"

Chiếu cầu hiền:

"Khi trong nước có biến cố người hiền ở ẩn, không chịu xuất hiện. Trẫm tìm chưa ra. Nay đang buổi khó khăn, vận trời rối loạn, nhà vua có nhiều thiếu sót, biên cương đang lo khôi phục, nỗi đau khổ của dân chưa được hồi sinh, người quân tử phải ra mà sửa sang việc đời. Trẫm nghĩ một người không dựng nên cuộc thái bình. Thăm dò trong cõi, thế nào cũng có người kiệt xuất, vậy ban tờ Chiếu này để trăm họ ai có tài năng học thuật mưu chước hơn người thì dâng lên, hoặc tiến cử, trình kiến, tự dâng thư (Nói đúng thì nghe, nói không đúng thì không bắt tội) tùy tài sẽ sắp xếp công việc. Nay trời đất thanh bình là lúc hiền giả gặp gió mây, những người tài đức nên hăng hái ra thi thố trước sân vua một lòng kính cẩn cùng nhau hưởng phúc tôi vinh".

Chiếu khuyến học:

"Xây dựng đất nước lấy việc học làm đầu, tìm lẽ trị bình lấy tuyển nhân tài làm gốc. Sau thời loạn phải sửa sang và đẩy mạnh việc giáo hóa và đặt lại khoa cử. Đó là phương pháp lớn để chuyển loạn làm trị. Lên ngôi Vua tôn trọng nho học, quý mến kẻ sỹ, muốn được người có tài ba giúp nước. Lập tờ Chiếu này khuyên các nơi lập trường học, chọn nho sĩ có học hành tốt ra làm thầy giảng dạy rèn tập. Mỗi Phủ phải có Văn Miếu, có quan huấn đạo ... "

Chiếu khuyến học dưới thời Quang Trung được phổ biến về mọi làng xã. Thuở ấy các đình làng đều treo hoành phi có nội dung cô lại thành tám chữ:

"Dĩ học vi tiên - Dĩ tài vi bản"

(Lấy việc học làm đầu - Lấy việc tuyển mộ nhân tài làm gốc).

PGS.TS Đặng Quốc Bảo 

Theo Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 34+35, tháng 11/2012

 

 

     



Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Anh Tú @ 08:50 13/12/2012
Số lượt xem: 500
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến

CẢM ƠN QUÍ VỊ VÀ CÁC BẠN ĐÃ TRUY CẬP WEBSITE THÔNG TIN- VĂN HÓA-GIÁO DỤC- GIẢI TRÍ