Thời gian trôi qua mau

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Nguyễn Anh Tú)

Thư mục

Thông tin tổng hợp

Thống kê truy cập

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    CHA VÀ CON


    "CÁN BỘ THƯ VIỆN LÀ LINH HỒN CỦA SỰ NGHIỆP THƯ VIỆN" (N.K KRUXKAIA)
    Gốc > Tìm hiểu lịch sử >

    10 cuộc “đổi mới” quan trọng trong lịch sử Việt Nam

     

    (TT-VH-GD-GT) - Hơn 1.000 năm qua, lịch sử VN đã ghi nhận nhiều cuộc cải cách lớn làm thay đổi diện mạo đất nước và để lại các bài học quý giá cho hậu thế.

    Họ Khúc đem lại an vui cho dân

    Cuối thế kỷ IX, đầu thế kỷ X, sau khi đứng lên nắm quyền tự chủ dân tộc, họ Khúc đã tiến hành một cuộc cải cách sâu rộng để thay thế cơ cấu hành chính do phương Bắc áp đặt bằng cơ chế mới của người Việt. 

    Cụ thể, phương thức cai trị "nắm từ trên xuống”, từ tiết độ sứ đến quân lệnh, chia Giao Châu thành các cấp quận, huyện, hương… được thay thế bằng phương thức "nắm từ dưới lên", nắm từ cơ sở là cấp xã với các chức "chánh lệnh trưởng” và “tá lệnh trưởng” (quan xã), đến cấp giáp gồm 10 xã. 

    Chính quyền mới còn định ra hộ tịch, lập sổ khai hộ khẩu, kê rõ họ tên, quê quán quản lý cư dân, điều mà nhà Đường không thể nào làm được khi chiếm đóng nước Việt. 

    Về kinh tế, họ Khúc cho thực hiện chính sách "Bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch”, phân phối ruộng đất theo chế độ công xã (công hữu toàn bộ ruộng đất và chia cho nông dân), đánh thuế một cách bình quân theo ruộng đất, bỏ hẳn thuế đinh. Người thu thuế không phải quan xã mà là phó tri giáp, qua đó khắc phục được sự phiền hà sách nhiễu của quan địa phương cũng như nạn thu thuế nhiều tầng và tránh thất thu ngân sách cho chính quyền. 

    Các cải cách văn hóa, xã hội được cô đọng trong 4 chữ "khoan, giản, an, lạc”. Khoan là khoan sức cho dân. Giản là quản lý giản dị, gần dân. An là đem lại bình yên cho cuộc sống. Lạc là toàn dân được yên vui. Chính sách này được thực hiện bằng các hành động cụ thể, ví dụ như loại bỏ các hình thức lao dịch (bắt dân đi mò trai lấy ngọc, săn voi lấy ngà…).

    Nhìn chung, cuộc cải cách của họ Khúc đã đem lại sự ổn định cho đất nước trong nhiều thập niên, tạo tiền đề quan trọng cho các bước phát triển của đất nước sau này.

    Trần Thủ Độ vực dậy nước Đại Việt khủng hoảng

    Sau khi tiến hành cuộc chuyển giao quyền lực vương triều từ Lý sang Trần một cách êm thấm, thái sư Trần Thủ Độ (1194 – 1264) đã tiến hành các cải cách lớn về kinh tế - văn hóa - xã hội nhằm đưa đất nước vươn lên từ tình trạng khủng hoảng toàn diện cuối thời Lý.

    Biện pháp cải cách kinh tế quan trọng nhất của Trần Thủ Độ là chuyển dần công hữu ruộng đất thành tư hữu, cho bán ruộng công để dân mua, qua đó đẩy mạnh sản xuất, kinh tế hàng hóa - tiền tệ.

    Ngoài ra, nhiều biện pháp kinh tế khác cũng được tiến hành như cho đắp đê ngăn lũ, ngăn mặn, khai kênh tưới, tiêu, chú trọng trồng cây ăn quả, cây phòng hộ bên cạnh trồng lúa, quy hoạch 61 phường buôn bán, sản xuất ở Thăng Long, không đánh thuế thân mà chỉ đánh thuế đinh theo sở hữu ruộng đất...

    Về văn hóa – xã hội, nền pháp trị chịu ảnh hưởng Khổng giáo ngày càng được coi trọng dù Phật giáo vẫn là quốc giáo. Tư tưởng pháp trị biểu hiện qua việc soạn thảo luật pháp thành văn là bộ Quốc triều thống chế. Hình luật, lễ nghi được sửa đổi với các quy đinh chặt chẽ về y phục, trang sức, biểu diễn nghệ thuật…

    “Tam giáo đồng nguyên”, một tư tưởng tiến bộ về tôn giáo cũng được ủng hộ. Việc học hành, khoa cử được đổi mới, tăng thêm các học vị trong khoa bảng, đặt ra lệ chọn tam khôi là trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa.

    Nhìn chung, cuộc cải cách do Trần Thủ Độ tiến hành đã đem lại những thành quả tích cực, khiến cuộc sống của nhân dân no ấm.

    Hồ Quý Ly và cuộc cải cách “thành công nửa vời”

    Trong giai đoạn chuyển giao quyền lực từ nhà Trần sang nhà Hồ, Hồ Quý Ly(1336–1407) đã tiến hành những cải cách “chưa từng có” nhằm giải quyết tình trạng khủng hoảng toàn diện của đất nước thời bấy giờ.

    Một trong các cải cách quan trọng nhất của Hồ Quý Ly là đưa ra biện pháp “Hạn điền", nhằm hạn chế chiếm hữu lớn về đất đai của quý tộc phong kiến, quy định số ruộng thừa phải hiến cho nhà nước. Dù đánh vào nền tảng kinh tế và chính trị của giới phong kiến quý tộc nhưng cải cách này chỉ mang tính nửa vời vì số đất lấy ra không được cấp lại cho dân mà lại đem sung công, biến thành “ruộng triều đình”.

    Bên cạnh biện pháp hạn điền là “hạn nô”, nhằm giới hạn số lượng gia nô mà giới phong kiến quý tộc được sở hữu, bắt buộc dâng số gia nô thừa cho chế độ. Đây cũng là một cải cách nửa vời, vì số gia nô dư thừa không được sử dụng để tăng sức sản xuất xã hội mà lại được dùng đễ sung công, sung quân dịch nhằm cũng cố triều đình.

    Dưới triều Hồ, lần đầu tiên tiền giấy được phát hành. Nhưng biện phát này đã tỏ ra không hiệu quả trong việc vận hành nền kinh tế và còn gây bất an cho dân chúng vì thiếu tin tưởng vào giá trị của tờ tiền. 

    Về văn hóa, giáo dục, Hồ Quý Ly khuyến khích sử dụng chữ Nôm, cổ vũ Nho giáo, đề cao lối học thực dụng, phê phán những người tuy học rộng nhưng viển vông, ban hành chính sách khuyến học cho mở trường đến các phủ châu, ban quan điền để chi về việc học, cải tiến thi cử, mở nhiều khoa thi kén chọn người tài…

     Thành nhà Hồ, công trình kiến trúc tiêu biểu của nhà Hồ còn tồn tại đến ngày nay.

    Hồ Quý Ly cũng thực hiện cải cách thiết chế chính trị xã hội và hệ tư tưởng phong kiến với các biện pháp cụ thể nhằm phát triển đội ngũ quan lại phong kiến quan liêu thay thế dần phong kiến quý tộc, thay thế quan hệ tông tộc bằng đạo vua – quan.

    Nhìn chung, Hồ Quý Ly đã tiến hành một cuộc toàn diện và có nhiều điểm tiến bộ, nhưng vẫn còn những mặt chưa hợp lý. Việc đề ra những biện pháp cưỡng ép nghiêm ngặt đã làm mất lòng giới quý tộc, tăng lữ Phật giáo và cả dân chúng. Dù vậy, cải cách của Hồ Quý Ly cũng có cống hiến đáng kể cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong một giai đoạn lịch sử của dân tộc. 
     
     Cải cách của Trịnh Cương dù không sâu rộng nhưng rất đặc biệt. Đó là cuộc cải cách tài chính duy nhất trong suốt thời kỳ Cổ-Trung đại của sử Việt.

    Vua Lê Thánh Tông cải tổ tận gốc rễ thể chế

    Trong thời đại trị vì của mình, vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497) đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong lịch sử Việt Nam với cuộc cải cách toàn diện thiết chế chính trị - xã hội nhằm xây dựng một nhà nước pháp quyền vững mạnh.

    Về phân cấp đơn vị hành chính, vào các thời kỳ trước đất nước còn chia thành “trấn, lộ, phủ, huyện, châu...” thì đến Lê Thánh Tông các đơn vị lộ, trấn được bãi bỏ, qua đó giảm nhẹ được sự cồng kềnh của bộ máy quản lý.

     Tượng vua Lê Thánh Tông.
    Nhằm nâng cao quyền lực nhà vua, xây dựng nên bộ máy hành chính có hiệu lực, hạn chế đến mức thấp nhất sự phân quyền và sự lộng hành của các công thần, vua Lê Thánh Tông cho bãi bỏ ngay chức tể tướng, cùng các chức tả, hữu tướng quốc, bộc xạ, đại hành khiển... Đồng thời đặt ra 6 bộ, mỗi bộ do một thượng thư đứng đầu. Ngoài 6 bộ còn có các viện, các, giám, đài, ty coi sóc các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật... Qua đó một cơ chế nhà nước pháp quyền đã hình thành, tạo cơ sở cho cải cách trên các phương diện khác.

    Về giáo dục, nhờ cải cách chế độ khoa cử nên trong 30 năm vua Lê Thánh Tông cai trị, triều đình đã chọn được 501 tiến sĩ trong đó có 10 trạng nguyên, mà nhiều người có tài năng đã cống hiến nhiều cho đất nước. Để không bỏ sót nhân tài, nhà vua còn quy định: "Lục bộ, lục khoa, ngự sử đài mà tiến cử bậy thì chịu tội giáng hay bãi chức, nếu tiến cử được người giỏi thì nhất định sẽ được khen thưởng".

    Về luật pháp, nhà vua đã cho ban hành Bộ luật Hồng Đức còn gọi là Quốc triều hình luật, một bước tiến lớn của nền pháp trị phong kiến Việt Nam mà cho đến nay các nhà luật học thế giới còn đánh giá cao. 

    Nhìn chung, cuộc cải cách của vua Lê Thánh Tông đã đem lại sự thịnh trị cho nhà Lê cũng như để lại cho ngày nay nhiều bài học quý giá.

    8 năm tỏa sáng của Đào Duy Từ

    Đào Duy Từ (1572-1634) là nhà văn hóa, nhà quân sự và danh thần thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Trong thời gian làm quan, ông đã thể hiện tài trí của mình qua các cuộc cải cách trên nhiều lĩnh vực. 

    Về kinh tế, Đào Duy Từ vừa khuyến khích phát triển công, thương, vừa cải tiến thu chi tài chính bằng các biện pháp cụ thể như giảm thuế thu bằng hiện vật, tăng thu thuế bằng tiền, bãi bỏ lệnh độc quyền của triều đình thu mua các sản vật công, nông nghiệp để nhân dân có thể tự do mua, bán với thương nhân trong và ngoài nước.

    Các biện pháp này đã thúc đẩy sự phát triển của nền công, nông nghiệp và nội, ngoại thương. Trên cơ sở đó nhà nước tăng thu thuế khóa bảo đảm cho sự vận hành của thiết chế chính trị và quân sự. 

    Về giáo dục, tuy vẫn tuyển chọn nhân tài qua khoa cử, nhưng Đào Duy Từ thể hiện sự coi trọng ứng dụng thực tế bên cạnh việc thi văn sách truyền thống. 

     Di tích Lũy Thầy ở Quảng Bình, một công trình quân sự độc đáo mang dấu ấn của Đào Duy Từ.
    Về văn hóa, Đào Duy Từ coi trọng phát triển các loại hình nghệ thuật dân gian, đặc biệt là nghệ thuật tuồng. Bản thân ông cũng trở thành một trong những vị tổ sư của ngành hát tuồng, đồng thời còn là một nhà thơ mở đầu cho trào lưu sáng tác thơ quốc âm ở Đàng Trong, làm phong phú thêm cho văn học dân tộc.

    Lĩnh vực quân sự ghi nhận nhiều đóng góp quan trọng của Đào Duy Từ. Trên cơ sở kế thừa tư tưởng của Trần Hưng Đạo trong cuốn Binh thư yếu lược, ông còn bổ sung thêm nhiều yếu tố mới như làm sâu hơn tư tưởng lấy nhân nghĩa làm đầu, cập nhật các kỹ thuật quân sự mới mà thời trước chưa có, đề cao trí tuệ dân gian trong các ứng dụng quân sự. Không dừng lại ở lý thuyết, Đào Duy Từ còn giúp chúa Nguyễn đẩy mạnh cải tiến vũ khí, xây thành đắp lũy.

    Dù chỉ làm quan trong 8 năm, nhưng các cải cách do ông khởi xướng đã giúp chúa Nguyễn có một cơ sở xã hội vững chắc và một quân đội hùng mạnh.

    Cuộc cải cách “độc nhất vô nhị” của chúa Trịnh Cương 

    Cải cách của chúa Trịnh Cương (1716-1729) dù không sâu rộng nhưng lại hết sức đặc biệt, vì đó là cuộc cải cách tài chính duy nhất trong suốt thời kỳ Cổ đại và Trung đại của lịch sử Việt Nam.

    Cuộc cải cách được tiến hành trong bối cảnh đất nước mới trải qua thời kỳ nội chiến kéo dài hơn 1 thế kỷ với những hậu quả kinh tế nặng nề, khiến đời sống của nhân dân cơ cực. Cải cách tài chính trở thành chìa khóa để vượt qua giai đoạn khó khăn này.

    Trước hết, chúa Trịnh Cương đã cho thực hiện "Biến pháp" gồm 10 điều nhằm chỉnh đốn kỷ cương phép nước và 2 biện pháp quản lý kinh tế lớn. Hai biện pháp đó là định lại thể lệ quân cấp công điền và cấm quan viên chiếm hữu đất trái phép, cấp đất và khuyến khích dân phiêu tán khẩn hoang.

    Sau 7 năm thực hiện các biện pháp trên, cuộc cải cách tài chính mới bắt đầu, gồm 10 hạng mục:

    1. Xóa bỏ phép binh lệ, làm lại sổ hộ, bỏ tên người đã chết, thêm số người đến tuổi vào sổ hộ để chịu thuế.

    2. Định phép chia đều thuế khóa và tạp dịch cho cả dinh và điền.

    3. Đánh thuế ruộng tư.

    4. Thu thuế khai thác và tiêu thụ đồng, quế, muối.

    5. Giảm bớt viên chức để giảm bớt chi lương bổng.

    6. Thi hành phép đánh thuế tô (thuế ruộng), dung (thuế thân), điệu (thuế sai dịch).

    7. Đặt thêm sở tuần ty ở các trấn để tận thu thuế thương nghiệp.

    8. Thu thuế các loại thổ sản khác.

    9. Thu thuế đất ở đô thị.

    10. Định ra các thể lệ giảm, miễn thuế...

    Ngoài ra, chúa Trịnh Cương còn thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ cho cải cách như cấm uống rượu, tiến hành đán, phê bình quan lại địa phượng, cho phép dân nói về việc xấu của quan lại… 

    Cải cách tài chính của chúa Trịnh Cương đã tạm thời giải quyết được khó khăn về kinh tế, người nông dân có cuộc sống no đủ hơn. Tuy vậy, cuộc cải cách này nhìn chung vẫn chưa giải quyết được tận gốc của các mâu thuẫn cơ bản và cuộc khủng hoảng toàn diện của xã hội. Sau cái chết đột ngột của Trịnh Cương, quyền lực của họ Trịnh dẫn dần suy yếu và đi đến chỗ tiêu vong.

    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Anh Tú @ 21:31 01/07/2013
    Số lượt xem: 494
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    CẢM ƠN QUÍ VỊ VÀ CÁC BẠN ĐÃ TRUY CẬP WEBSITE THÔNG TIN- VĂN HÓA-GIÁO DỤC- GIẢI TRÍ